“Việt Nam đối diện thách thức tái cơ cầu kinh tế”

Email In

(InfoTV) - Với chủ để “Đối diện thách thức tái cơ cấu kinh tế”, Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam 2012 vừa được công bố sáng hôm qua (24/5) cho rằng, Việt Nam cần xem xét lại nghiêm túc mô hình kinh tế vừa qua và định hướng hiện nay. Nếu chúng ta không nhận thức được rõ ràng và dứt khoát về mô hình mới cho phát triển kinh tế, cũng như những thể chế hỗ trợ phù hợp thì cải cách sẽ không có mục tiêu thực sự mà quá trình tái cơ cấu hiện nay đang đặt ra.

 
Năm 2012 là năm Việt Nam thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế, trên cả 3 phương diện gồm: tái cơ cấu hệ thống tài chính mà trọng tâm là hệ thống ngân hàng thương mại; tái cơ cấu DNNN trong đó trọng tâm là các tập đoàn và tổng công ty; và cuối cùng là tái cơ cấu đầu tư công.


Báo cáo cho rằng, việc thực hiện tái cơ cấu, nếu thành công sẽ đem lại hiệu quả lâu dài cho nền kinh tế, nhưng trong ngắn hạn sẽ đặt ra những chi phí nhất định đối với nền kinh tế, mà một biểu hiện vĩ mô là tăng trưởng kinh tế sẽ chậm lại trong năm 2012. Hơn nữa, việc đề ra chính sách và thực thi tái cơ cấu có một khoảng cách không nhỏ, khiến việc triển khai những cải cách liên quan đến cấu trúc nền kinh tế là một nhiệm vụ khó khăn. Điều này đặt Chính phủ cũng như toàn nền kinh tế phải đối diện với nhiều thách thức to lớn.


Nghịch lý từ hệ thống các ngân hàng thương mại


Nền kinh tế Việt Nam năm 2011 được ví như một chiếc xe đi trong điều kiện giông bão của nền kinh tế toàn cầu. Tình hình nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng nợ công tại châu Âu và những hệ luỵ của nó về chính trị và xã hội đã tạo ra một cuộc khủng hoảng niềm tin, đẩy thị trường tài chính thế giới vào cảnh rối loạn. Cùng với đó, nền kinh tế Việt Nam năm 2011 gặp rất nhiều khó khăn một phần là kết quả của những chính sách những năm trước để lại và phản ứng chính sách trong năm 2011 trước những hệ quả đó.


Theo nhóm tác giả, bối cảnh hậu khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu không chỉ đặt ra cho Việt Nam vấn đề tái cơ cấu nền kinh tế, mà trong đó còn có yêu cầu cấp thiết là tái cơ cấu một cách toàn diện và đồng bộ hệ thống ngân hàng như một yếu tố then chốt để đảm bảo sự phát triển nhanh và bền vững.


Qua nghiên cứu, nhóm tác giả cũng chỉ rõ, trong giai đoạn 2010 đến quý 1/2012, ngoài những yếu tố khác có liên quan trực tiếp như lạm phát cao, thị trường bất động sản và chứng khoán sụt giảm và đóng băng, các doanh nghiệp đình đốn… thì hoạt động của hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam cũng chịu tác động mạnh mẽ của các biện pháp và chính sách điều tiết trực tiếp từ Ngân hàng Nhà nước.


Theo đó, những biện pháp và chính sách điều tiết đó đã góp phần kiềm chế lạm phát nhưng cũng chính là tác nhân chính tạo ra những nghịch lý trong hoạt động của hệ thống các ngân hàng thương mại như các cuộc đua tăng lãi suất, hiện tượng căng thẳng thanh khoản và nguy cơ ứ đọng vốn, lợi nhuận ngân hàng cao trong bối cảnh kinh tế sa sút, các doanh nghiệp kinh doanh đình đốn, phá sản…


Thêm vào đó, nợ xấu của hệ thống ngân hàng lại đang có xu hướng tăng trong điều kiện công tác quản trị điều hành yếu, quản lý rủi ro đã được coi trọng nhưng vẫn chưa được thực hiện theo thông lệ quốc tế.


Mặc dù có thể thấy, Việt Nam đang có cách tiếp cận chủ động trọng tái cơ cấu hệ thống ngân hàng nhằm bảo đảm đạt được các mục tiêu đã đề ra, tuy nhiên, trên thực tế thì vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra như biện pháp, lộ trình, đối tượng, cũng như những khó khăn và thách thức.


Và theo đó, nhóm nghiên cứu cho rằng, để thực hiện thành công quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam thì cần làm rõ các ẩn số có liên quan đến mô hình, định dạng hệ thống ngân hàng sau tái cơ cấu, cũng như nguồn lực tài chính, vai trò của công ty mua bán nợ, sự phối hợp giữa cơ quan đầu mối và cơ quan phối hợp trong quá trình thực hiện tái cơ cấu.v.v…


DNNN hoạt động kém hiệu quả


Có thể nói doanh nghiệp nhà nước (DNNN) có đóng góp lớn cho sự phát triển chung của kinh tế Việt Nam, tuy nhiên, hiện nay, hoạt động của DNNN Việt Nam nói chung, các tập đoàn kinh tế cũng như tổng công ty nhà nước nói riêng có dấu hiệu kém hiệu quả.


Thực trạng hệ thống DNNN hiện nay cho thấy, quy mô DNNN có từ 5000 lao động trở lên vẫn chiếm vượt trội so với khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước nhưng lại không có ưu thế so với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).


Với những ưu ái của nhà nước như: Được hưởng sự ưu đãi tín dụng, sự đầu tư lớn của nhà nước, phân bổ nguồn lực sản xuất cao… khiến tốc độ mở rộng quy mô vốn của DNNN đã tăng nhanh chóng trong vòng 10 năm trở lại đây. Tuy nhiên có một thực tế là, DNNN sử dụng nguồn vốn kém hiệu quả.


Ngoài ra, theo thống kê cho thấy, dư nợ vay từ ngân hàng của DNNN chiếm số lượng lớn cảnh bảo rủi ro từ mất cân đối tài chính của DNNN cũng rất đáng lo ngại hiện nay khiến cho DNNN khó có thể đảm đương được vai trò là lực lượng kinh tế chủ đạo…


Sự yếu kém này sẽ khiến cho Việt Nam khó có thể tận dụng được các lợi ích của việc hội nhập, điều mà Việt Nam đã phải phấn đấu trong một thời gian dài. Do đó, cải cách DNNN trở thành nhu cầu bức thiết.


Để thực hiện tốt vấn đề này, Báo cáo cho rằng, Chính phủ cần tinh giản số lượng DNNN, giảm bớt quy mô DNNN; cải thiện hiệu quả quản trị công ty tại DNNN… Đặc biệt, cần khắc phục những yếu kém của hệ thống DNNN để hạn chế những tổn thất mà hệ thống này có thể gây ra cho nền kinh tế


Đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân


Trong bối cảnh đầu tư công ở châu Âu đang trở thành tâm điểm gây bất ổn kinh tế toàn cầu từ cuối năm 2010 đến nay, đầu tư công lại được giới nghiên cứu và giới làm chính sách ở Việt Nam quan tâm trở lại.


Hiện nay, với mức đầu tư công của Việt Nam ở mức 42% tổng giá trị đầu tư toàn xã hội năm 2010, dù đã giảm đáng kể từ mức 59,1% vào năm 2000, đầu tư công được coi như là nguyên nhân chính khiến nợ công của Việt Nam tăng mạnh từ mức 42,4% GDP năm 2005 lên mức 52,7% GDP năm 2010. Nợ công cao được coi như nguy cơ tiềm ẩn gây ra khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng kinh tế ở Việt Nam trong tương lai.


Nghiên cứu của nhóm tác giả cho thấy, hiện đầu tư công đang “lấn át” đầu tư tư nhân. Thêm vào đó là những bất cập trong cơ chế phân bổ và giám sát nguồn vốn của Việt Nam giữa Trung ương và địa phương cho thấy, cơ chế hiện tại khuyến khích các địa phương “vẽ” ra dự án để xin được càng nhiều ngân sách càng tốt, trong khi đó cơ chế giám sát nguồn vốn phân bổ từ chính quyền trung ương lại hầu như không có.


Chính vì vậy, phải sửa đổi việc phân cấp quản lý và đổi mới công tác quy hoạch, nhằm giúp cho đầu tư công trở nên hiệu quả hơn, hướng đến hỗ trợ thay vì chèn ép đầu tư tư nhân.


Báo cáo Thường niên Kinh tế Việt Nam 2012 với chủ đề “Đối diện thách thức tái cơ cấu kinh tế” là kết quả nghiên cứu của nhóm chuyên gia kinh tế Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) thuộc Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Đây là Báo cáo được thực hiện hàng năm kể từ năm 2009 và thu hút sự quan tâm của rất nhiều chuyên gia, những người quan tâm đến môi trường kinh tế.

 

InfoTV
Hải Yến
 

Video Mới Nhất

Vietnam Airlines bán vé giá rẻ từ 199 nghìn đồng

Bất động sản

Vàng